ENGLISH | JAPANESE

Con đường di sản

Hồ Nghinh (1913 - 2007)

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ở vị trí công tác nào, ở bất cứ đâu, nhất là những nơi khó khăn, ác liệt và phức tạp, đồng chí Hồ Nghinh cũng bám sát cuộc sống, lấy thực tiễn cuộc sống làm cơ sở cho tư duy sáng tạo trong việc lãnh đạo, chỉ đạo của mình (Nhà văn Hồ Duy Lệ).

Các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu đã nhận xét về ông:

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt:  Tôi thấy ở Anh có một chính kiến, không rào đón. Anh rất ghét các loại cơ hội, bảo thủ và lý luận suông không gắn liền với thực tiễn cuộc sống của đất nước.

Tôi có một ấn tượng đẹp về anh Hồ Nghinh. Anh phát biểu về quan điểm và ý kiến khác của mình để làm sáng tỏ những ý kiến khác nhau. Tôi cho đó là việc bình thường, cần thiết và đặc biệt ở Anh, tôi không thấy ý thức cục bộ, bè phái.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Theo tôi, những suy nghĩ và ý kiến của anh Nghinh đã đóng góp vào việc tìm ra đường lối ''đổi mới'' của Đảng...Với  những anh em đã từng chiến đấu, công tác, Anh là người anh lớn, một người lãnh đạo được anh em rất kính nể và quý mến, là người lãnh đạo sắc sảo và kiên quyết trong công tác, nhưng lại rất khoan dung, thương yêu và hết sức quan tâm đến những cán bộ đàn em.

Nhà nghiên cứu  Trần Bạch Đằng: Con người Anh điềm đạm, từ tốn -thuộc loại bẩm sinh, chứ không màu mè gì cả. Tôi không khó nhận thấy ở Anh là một trí thức, từ lâu đã ở trong đội ngũ của Đảng, là nòng cốt ở vùng đất nổi tiếng với các phong trào yêu nước...Với tôi, Anh Hồ Nghinh là một sỹ phu xứ Quảng, theo nghĩa chiều sâu của từ này: không có gì khuất phục nổi cái tiết tháo của một con người biết sống cho ra sống...

Nhà báo Đặng Minh Phương: Được tiếp xúc nhiều với anh Hồ Nghinh, nghe nhiều ý kiến của cán bộ quanh Anh nói về Anh, tôi thấy Anh có nét tích cực về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của nền giáo dục Nho, đồng thời là người nhìn xa, trông rộng, phân tích tình hình và chủ trương công tác trên quan điểm ''động'' theo phương pháp duy vật biện chứng, luôn luôn vì lợi ích  của nhân dân, của Tổ quốc và của Đảng. Do đó có người nói vui đồng chí Hồ Nghinh là : ''Nho cốt cách, Mác tinh thần''.

Nhà văn Nguyên Ngọc:  Sự dũng cảm của anh Hồ Nghinh dường như là sự tổng hợp hài hòa nhuần nhuyễn đến mức tự nhiên, gần như thản nhiên, giữa cái đức hy sinh quên mình truyền thống của những người anh hùng dân tộc, cái khí tiết trầm tĩnh, thâm thúy của nhà nho, với cái minh mẫn trí tuệ của con người hiện đại, con người cộng sản...Con người đầy dũng khí cách mạng ấy cũng lại là một con người có sức nghĩ và tiếp nhận rất rộng mở đối với tất cả những tư tưởng mới mẻ, không để cho mình bị bất cứ một định kiến tư tưởng nào kìm hãm và luôn lấy thực tiễn đời sống của nhân dân, quyền lợi và hạnh phúc lâu dài của nhân dân làm tiêu chuẩn duy nhất cho những định hướng suy nghĩ và hành động của mình.

Hồ Nghinh, bí danh Ba Phước (thời kháng chiến chống Mỹ), sinh năm 1913 trong một gia đình có truyền thống nho học ở xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Học xong tiểu học ở quê, Hồ Nghinh ra Huế học ở trường Quốc học, cùng lớp với Võ Nguyên Giáp. Do tham gia đấu tranh bãi khóa đòi ân xá Phan Bội Châu, truy điệu Phan Châu Trinh, ông bị bắt và bị kết án tù 2 năm.

Năm 1945, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng 8-1945, được cử làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Duy Xuyên. Năm 1946, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; năm 1947 được bầu làm Phó bí thư Huyện ủy Duy Xuyên.

Tháng 1-1949, được bầu vào Tỉnh ủy, một năm sau được cử vào ban Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách Mặt trận Liên Việt Quảng Nam - Đà Nẵng cho đến năm 1954.

Sau Hiệp định Genève (7-1954), được bố trí ở lại hoạt động (trong Ban Chấp hành Tỉnh ủy bí mật); năm 1955 được Khu ủy cử ra miền Bắc bằng con đường hợp pháp. Đến tháng 5-1955, được điều về Ban Liên hiệp đình chiến (gồm cả sĩ quan Pháp và Việt Nam).

Năm 1959, trở về chiến trường miền Nam và tham gia chiến đấu cho đến ngày toàn thắng (30-4-1975), đã kinh qua các chức vụ Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà (1962-1972), Ủy viên Thường vụ Khu ủy V, Ủy viên Chủ tịch đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong Đại hội Mặt trận lần thứ nhất (2-1962).

Sau ngày giải phóng, Hồ Nghinh làm Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Đà Nẵng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng. Trong giai đoạn phục hồi kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh sau năm 1975, với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy, ông có công lớn trong việc chỉ đạo cải tạo công thương nghiệp không hoàn toàn theo công thức rập khuôn, giáo điều như nhiều nơi khác và đạt được những thành tích lớn. Trong lĩnh vực nông nghiệp, ông đã thuyết phục được những người lãnh đạo ngành thủy lợi và những quan chức lãnh đạo kinh tế trung ương cho phép xây dựng đập Phú Ninh để giải quyết vấn đề kinh tế, dân sinh của tỉnh Quảng Nam trong điều kiện nguồn vốn xây dựng cơ bản còn rất eo hẹp. Nhờ đó mà nửa tỉnh đất cằn cỗi ở phía nam, rộng 25.000 ha từ một vụ lúa bấp bênh, năng suất thấp thành cánh đồng lúa hai vụ xanh tươi.

Cả cuộc đời cách mạng của ông luôn gắn bó với chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, là Bí thư Tỉnh ủy gần như liên tục suốt 19 năm (1963-1982). Trong Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương, và ở Đại hội khóa V, ông được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1982, ông được cử làm Phó ban Kinh tế Trung ương cho đến khi nghỉ hưu.

Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của ông, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phối hợp với tủ sách Đất Quảng xuất bản cuốn sách Hồ Nghinh - một chiến sĩ, một con người (2003) gồm trên 40 bài viết của những đồng chí, bạn bè chiến đấu trong hơn 60 năm hoạt động cách mạng bao gồm nhiều người, từ Thủ tướng, Phó Chủ tịch nước, tướng lĩnh, cán bộ lãnh đạo chính trị cao cấp, nhà văn, nhà báo, chức sắc đạo Thiên Chúa, đạo Phật… Họ đã dùng những từ đẹp nhất để ca ngợi sự dũng cảm, tài năng, tầm nhìn và những phẩm chất cách mạng cao đẹp của người đảng viên cộng sản Hồ Nghinh.

GS. Vũ Khiêu, Anh hùng Lao động, Giải thưởng Hồ Chí Minh, nhân dịp mừng thọ ông 90 tuổi, đã tặng ông hai câu đối:
“Mười bảy tuổi đi theo cờ Đảng, thề trung với nước, hiếu với dân, trải bao phen thử thách gian nan, chất cộng sản ngời lên Nhân, Trí, Dũng.
Chín mươi năm nhìn lại cuộc đời, là cháu Bác Hồ, con xứ Quảng, sống một mực thanh cao liêm khiết, tính nhân văn tỏa sáng nước, trời, mây”.

Năm 2006, ông được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

Ông mất ngày 16-3-2007 tại thành phố Đà Nẵng.

Trước lúc qua đời, ông để lại số tiền 1 tỷ đồng và muốn con cháu tiếp tục thực hiện một điều gì đó có ích cho tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Nhận di chỉ của cha, ông Hồ Việt (nguyên chủ tịch thành phố Đà Nẵng  thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng) đã trăn trở, tham khảo rất nhiều ý kiến của các vị lãnh đạo, các bậc lão thành cách mạng và ông đã quyết định xây dựng một Quỹ khuyến khích sáng tạo khoa học và công nghệ Hồ Nghinh (gọi tắt là Quỹ Hồ Nghinh) với tôn chỉ khuyến khích việc nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng khoa học và công nghệ của cán bộ, nhân dân đặc biệt là thành viên, hội viên của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật TP, Hội kinh tế TP… góp phần phát triển KTXH.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Võ Duy Khương
dâng hương tưởng nhớ vị lão thành cách mạng Hồ Nghinh

Ghi nhận những đóng góp to lớn của ông cho quê hương Quảng Nam Đà Nẵng, chính quyền thành phố đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Hồ Nghinh, rộng 15m, giao nhau với đường Phạm Văn Đồng.

Cổng TTĐT thành phố