CHƯƠNG TRÌNH "Tập trung phát triển công nghiệp, ưu tiên đầu tư đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, phấn đấu là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá" - CHƯƠNG TRÌNH 1

 

 

Trong những năm qua, thành phố Đà Nẵng đã triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp và các phân ngành kinh tế kỹ thuật: Cơ khí, dệt may, hoá chất-cao su-nhựa, chế biến nông sản đến năm 2010; các Đề án phát triển công nghiệp theo hướng CNH-HĐH; các Nghị quyết của Thành uỷ, Đề án của UBND thành phố về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) từ nay đến năm 2005 và 2010.

     Nhằm đẩy mạnh phát triển công nghiệp và CNTT theo tinh thần Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị, UBND thành phố triển khai Chương trình: Tập trung phát triển công nghiệp, ưu tiên đầu tư đẩy mạnh phát triển CNTT, phấn đấu là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá với các nội dung cụ thể sau đây:

     A. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ CNTT THÀNH PHỔ ĐÀ NẴNG

     Thực hiện Quy hoạch đã được duyệt và các chủ trương của thành phố về phát triển công nghiệp và CNTT, trong thời gian qua đã đạt được những kết quả:

     - Giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành năm 2003 thực hiện 5.873 tỷ đồng. Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1999-2003 đạt 21%/năm trong đó: Công nghiệp quốc doanh 23,4% (QDTW 31,3%, QDĐP 8,7%), dân doanh 16,9% và đầu tư nước ngoài (ĐTNN) 17,9%, với các sản phẩm chủ lực như chế biến hải sản, may mặc, giày, xi măng, cao su..., đưa tỷ trọng công nghiệp ngày càng chiếm tỷ lệ cao (45%) trong cơ cấu GDP thành phố. Năm 2003, tỷ trọng công nghiệp quốc doanh chiếm 63,4% (QD TW 48,7%; QD ĐP 14,6%) dân doanh 17,8%, ĐTNN 18,8%, trong cơ cấu nội bộ ngành, công nghiệp chế biến chiếm 95,6%, điện-nước-khí đốt 3,7% và khai thác mỏ 0,8%. (Phụ lục 1)

     - Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2003 đạt 180 triệu USD, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1999-2003 đạt 12,75% với các sản phẩm chủ yếu: thủy sản chế biến, hàng dệt may, da giày, đồ chơi trẻ em, dăm gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ, săm lốp cao su, vật liệu xây dựng, màn tuyn, thuốc lá. Thị trường xuất khẩu mở rộng đến 69 quốc gia và vùng lãnh thổ.

     - Tổng mức đầu tư công nghiệp giai đoạn 1999-2003 đạt hơn 4.153 tỷ đồng, bình quân 830 tỷ đồng/năm. Việc đầu tư đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ ở các DNNN có chuyển biến rõ nét.

     - Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước trung ương và doanh nghiệp có vốn ĐTNN trên 80 tỷ đồng/doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước địa phương khoảng 8 tỷ đồng/doanh nghiệp, doanh nghiệp dân doanh khoảng 1,0 -1,2 tỷ đồng/doanh nghiệp.

     - Đặc biệt, trong 3 năm lại đây, tốc độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư ở các KCN tập trung đạt chuyển biến tiến bộ, là tiền đề cho bước phát triển về quy mô và tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp thành phố trong các năm đến. Tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2004, tại 5 Khu Công nghiệp của thành phố có 224 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn đầu tư là 197.149.000 USD và 8.072 tỷ đồng; trong đó, có 35 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư là 197.149.000 USD, 189 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn là 8.072 tỷ đồng. Diện tích đất tại các Khu Công nghiệp đã cho các nhà đầu tư thuê là 4.767.394 m2.

     - Công tác tin học hóa quản lý hành chính ở các cơ quan chính quyền (Đề án 112) được chú trọng xúc tiến triển khai. Một số cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp đã có sự quan tâm đầu tư ứng dụng CNTT trong quản lý điều hành và đổi mới công nghệ sản xuất. Công tác chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ cho ứng dụng CNTT được triển khai tích cực. Ngoài các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn, còn có trên 30 đơn vị tham gia đào tạo.

     - Công nghiệp CNTT được quan tâm đầu tư. Hiện nay, ở Đà Nẵng có khoảng 30 đơn vị trung ương và địa phương hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, gia công phần mềm. Trung tâm Công nghệ phần mềm Đà Nẵng ra đời và hoạt động bước đầu có hiệu quả. Doanh thu phần mềm của Trung tâm trong năm 2003 đạt hơn 2 tỷ đồng. Các dịch vụ CNTT phát triển khá nhanh. Một số dự án đầu tư trong lĩnh vực phần cứng đã bắt đầu khởi động.

     - Cơ sở hạ tầng về CNTT nhanh chóng được xây dựng và từng bước hoàn thiện với việc hình thành 300 mạng LAN ở khối doanh nghiệp, 36 mạng LAN ở cơ quan chính quyền và 13 mạng LAN ở cơ quan Đảng. Hạ tầng viễn thông và Internet phát triển nhanh với đường truyền quốc tế là 355Mbps, đường truyền trong nước là 155Mbps. Trung tâm Công nghệ phần mềm được trang bị hệ thống mạng và cơ sở hạ tầng Internet hiện đại, có Trạm vệ tinh mặt đất (VSAT) với đường truyền 45Mbps.

     Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động sản xuất công nghiệp và CNTT vẫn còn những tồn tại:

     - Công nghiệp phát triển khá cao, nhưng chưa thật vững chắc. Trình độ sản xuất và năng suất lao động đã được cải thiện nhờ đầu tư cả công nghệ và con người, nhưng nhìn chung vẫn còn thấp so với một số tỉnh và thành phố lớn, cơ cấu thành phần kinh tế chưa có sự chuyển biến tích cực theo định hướng đã đề ra. Một số ngành công nghiệp quan trọng phát triển chậm và qui mô còn nhỏ, như cơ khí luyện kim, điện tử, CNTT,... Tỷ lệ chế biến thô trong các sản phẩm nông, hải sản xuất khẩu còn cao; tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm may mặc, giày da xuất khẩu còn thấp, giá trị gia tăng nhìn chung chưa được cải thiện nhiều.

     - Tăng trưởng công nghiệp, chủ yếu dựa vào nội lực, trong đó khối doanh nghiệp trung ương ngày càng chiếm tỷ trọng ưu thế; ĐTNN tuy có tăng lên, song tỷ trọng vẫn còn thấp (dưới 20%); công nghiệp dân doanh phát triển về số lượng nhưng quy mô quá nhỏ. Sản phẩm xuất khẩu chưa đạt mục tiêu đặt ra. Thị trường nội địa của sản phẩm công nghiệp thành phố còn nhỏ, sức cạnh tranh yếu, nhất là hàng tiêu dùng. Năng lực sản xuất phần mềm ở Đà Nẵng chưa tăng trưởng đáng kể, hoạt động của các công ty phần mềm nước ngoài vẫn dừng ở mức thăm dò.

     - Các điều kiện về hạ tầng CNTT - Viễn thông chậm được cải thiện, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển CNTT của thành phố. Các đề án, chương trình, dự án trọng điểm theo Đề án ứng dụng và phát triển CNTT của thành phố chậm được triển khai. Công tác quản lý nhà nước về CNTT còn lúng túng. Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước triển khai chậm so với tiến độ đề ra. Việc ứng dụng CNTT ở nhiều cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp còn rất chậm.

     Nguyên nhân của những tồn tại:

     - Đầu tư cho công nghiệp tuy đã tăng lên, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển theo hướng CNH-HĐH. Chưa làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến cơ chế chính sách, hướng dẫn tạo điều kiện để nhân dân đầu tư vốn cho sản xuất kinh doanh. ĐTNN sau nhiều năm liền giảm liên tục mới có dấu hiệu hồi phục. Hiệu quả của công tác tư vấn đầu tư còn thấp, nhất là trong khâu tư vấn lập dự án. Thủ tục trong đầu tư XDCB vẫn còn rườm rà, qua nhiều khâu, tốn nhiều thời gian.

     - Công tác xúc tiến, kêu gọi đầu tư của thành phố còn chưa mạnh, thiếu thống nhất; đặc biệt, việc phối hợp với các Bộ, ngành trung ương, các chủ đầu tư để triển khai nhanh các dự án có tác dụng thúc đẩy phát triển công nghiệp của thành phố chưa đạt yêu cầu.

     - Lao động lành nghề, các chuyên gia đầu đàn, cán bộ quản lý giỏi vẫn còn rất thiếu. Chưa hình thành các cơ quan nghiên cứu, chưa có các giải pháp gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất, đặc biệt là giữa các trường Đại học với các doanh nghiệp.

     - Công tác quản lý nhà nước công nghiệp còn chồng chéo, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa đồng bộ, chặt chẽ nên hiệu lực quản lý chưa cao, nhất là trong khâu quy hoạch, xây dựng sản phẩm chiến lược, tìm kiếm thị trường, xúc tiến đầu tư, quản lý doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh,...

     - Các ngành, các cấp chưa nhận thức đúng vị trí, vai trò của CNTT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nên chưa tích cực chỉ đạo việc ứng dụng CNTT. Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về CNTT chậm được kiện toàn, đa số các cơ quan, đơn vị thiếu đội ngũ cán bộ hiểu biết về CNTT để tổ chức việc ứng dụng CNTT. Thiếu trầm trọng nguồn nhân lực cho việc phát triển công nghiệp phần mềm. Kinh phí đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT còn hạn hẹp so với yêu cầu. Chưa có các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển CNTT, ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp. Thiếu các qui định pháp lý để các cơ quan công quyền ứng dụng CNTT. Cơ chế, chính sách cho hoạt động của Trung tâm Công nghệ phần mềm bắt đầu biểu hiện những bất cập, ảnh hưởng đến sự phát triển, phát huy tiềm lực của Trung tâm.